Chàng trai khiếm thị trở thành triệu phú

0
10
“Ánh sáng không nằm ở đôi mắt mà nằm ở trái tim”.

Câu nói đó đúng với triệu phú khiếm thị Hoàng Đức Thanh (xã Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội). Nhiều người thắc mắc tại sao ông có thể làm được những điều mà đến cả người bình thường còn thấy khó khăn. Nhưng có lẽ triết lý sống “đã làm thì không bao giờ sợ, còn sợ thì sẽ không bao giờ làm” thôi thúc người đàn ông khiếm thị dám đạp lên cả bệnh tật và nghèo khổ để trở thành… ông vua nấm.
Sau bao năm cố gắng, ít ai ngờ được một trong những trang trại nấm lớn nhất huyện Đông Anh hiện nay là của một người khiếm thị. Mỗi năm, trang trại nấm của ông mang đến thu nhập hàng trăm triệu đồng, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 30 lao động tại địa phương.
Mắt mờ vẫn khát khao làm giàu
Ông Hoàng Đức Thanh có dáng người gầy gò, cao dỏng, hai con mắt trũng sâu nhưng vẫn toát lên ánh sáng niềm tin sẽ tạo ra một cuộc sống mà bao người bình thường phải mơ ước. Ông cười bảo, đôi mắt tưởng chừng rất sáng của ông đã “đánh lừa” rất nhiều người. Nhìn bên ngoài, không ai phát hiện ra 20 năm nay, ông đã sống hoàn toàn trong bóng tối, chỉ còn phân biệt được ngày và đêm. Muốn đi đâu xa, ông thuê một xế ôm riêng cho mình.
Thế nhưng, danh sách việc lớn mà ông đã làm đếm không xuể: xây lò gạch, chủ thầu xây dựng, mở trang trại nấm, tự vạch đường chỉ việc cho tất cả lao động của mình. Với ông, “đã làm thì không sợ, mà đã sợ thì tôi sẽ không làm”. Ông tin những gì ông làm còn “chưa là gì cả”, bởi dự định của ông lớn hơn nhiều, dù có được ngày hôm nay, với ông là một chặng đường đầy gian nan và không ít lần thất bại.
Mục tiêu làm ông chủ của ông bắt nguồn từ cách đây hơn 26 năm, sau khi bôn ba làm thuê khắp nơi như làm thuê, gánh gạch, bán rau… mưu cầu cuộc sống. Thấy nghề làm thuê cực nhọc mà vẫn không đủ sống qua ngày, huống gì lúc đó, 3 đứa con ông đã đến tuổi ăn học, ông bàn với vợ mượn tiền mở lò gạch. Với 200.000 đồng trong tay, ông thầu 6.000m2 đất đồng để lấy đất làm gạch. Thế nhưng, lứa gạch nung đầu tiên chưa kịp ra lò trận lũ lịch sử năm 1987 quét về, dâng hết gia tài của ông cho thần nước.
Thất bại, nợ nần nhưng ông vẫn không gục ngã. Vợ chồng ông bỏ lò gạch, gửi ba đứa con còn nheo nhóc cho ông bà ngoại trông nom và dắt nhau xuống Đa Hội, Phúc Yên (Vĩnh Phúc) mở quán thịt chó. Quán đông, người ta ngạc nhiên khi thấy một anh chàng có đôi mắt mờ mờ đục vẫn chặt thịt chó chan chát. “Muốn có món ăn ngon, hợp khẩu vị khách hàng, tôi mua sách nấu ăn về nhờ vợ đọc, nghe đài để tích lũy kiến thức. Quán ăn của tôi bao giờ cũng rất đông khách”, ông Thanh chia sẻ. Sau 6 năm bán thịt chó, vợ chồng ông Thanh tiết kiệm được một khoản kha khá, “nâng cấp” ngôi nhà vách đất của mình thành một căn nhà 2 tầng khang trang giữa làng.
Cũng thời gian này, đôi mắt ông Thanh hầu như không còn nhìn thấy gì nữa. Ám ảnh sức khỏe và thiệt thòi, ông buồn bực bỏ quán ăn, rẽ hướng bằng nghề… thầu xây dựng. Tôi thắc mắc thì ông Thanh ngẫm một lúc, rồi nói: “Tôi không được học nhiều, chữ nổi brain (chữ dành cho người khiếm thị) cũng không biết. Hồi đó, quê tôi rộ lên nghề đi xây, ai có bản lĩnh thì làm chủ thầu. Căn nhà của gia đình mà tôi thiết kế và thi công xong, ai cũng khen đẹp, lại chắc chắn. Thế là tôi quyết… liều một phen”.

Có lẽ nhiều người không tin một người mù có thể làm chủ thầu xây dựng, nhất là khi đứng ra thầu những công trình lớn. Nhưng ông bảo, mình càng không thấy thì càng phải làm nghiêm túc gấp đôi, giám sát sát sao, tiêu chuẩn chính xác, đảm bảo chất lượng thì người ta mới tin tưởng. Điều quan trọng nhất là ông sợ… bị bắt đền. “Tôi cam kết, nếu công trình có một sai sót hoặc lỗi kỹ thuật nào, tôi sẽ đền bù toàn bộ. Có lẽ vì sợ bị bắt đền nên tôi dồn hết tâm huyết để làm”, ông kể.
Để thầu một công trình xây dựng, ông thuê đội ngũ nhân viên lành nghề, còn ông chỉ huy từ A đến Z. Lúc đầu, ông lo lắng lắm. Bước chân vào nghề xây dựng là nắm cả sự an nguy của một công trình, đảm bảo an toàn cho lao động, người sử dụng và sự bền vững của công trình đó nữa. Sau khi hỏi chủ nhà về diện tích, địa điểm, các mặt giáp ranh… để tính toán, ông hình dung ra rồi gọi thợ làm. Thời gian đầu, nhiều người dị nghị, bóng gió về công việc mà ông đang làm. Có người ác miệng còn bảo, “người tinh còn chẳng ăn ai, huống gì là thằng mù”. Việc nhận thầu vì thế cũng gặp rất nhiều khó khăn. “Tôi phải giấu đi đôi mắt không còn nhìn rõ của mình để được nhận công trình. Để tránh vấp ngã, tôi nhờ người dắt đi. Ai hỏi sao đi chậm và khó khăn thế, tôi chỉ bảo mắt kém hơn bình thường một chút”, ông nhớ lại. Đến khi công trình hoàn thiện được chủ tấm tắc khen, ông mới thật thà: “Mắt tôi đã yếu hẳn rồi”.
Tiếng lành đồn xa, người ta rỉ tai nhau về ông chủ thầu mù nhưng làm cẩn thận. Một công trình, người ta đo 1 lần về kích thước, thông số kỹ thuật, vật liệu xây dựng thì ông đo đi đo lại 2 – 3 lần. Ông cho biết: “Người ta nể và tốt với tôi lắm. Thấy tôi đến, nhiều người ra cửa đón vào nhà. Người mắt kém, chủ nhà để ý nhiều hơn đến công trình và đám thợ. Bằng kinh nghiệm khi còn nhìn thấy, mình đúc rút lại rồi thuê thợ về làm. Quan trọng là làm cho người ta tin mình không nhìn thấy nhưng mình làm được. Khó đấy, nhục đấy, nhưng không chịu khó chịu nhục như thế thì đâu có ngày hôm nay”. Công trình kênh đào quanh thôn Đa Hội dài gần 1km là do đội thầu của ông Thanh làm, từng trở thành kênh tưới tiêu cho khắp các cánh đồng quanh xã Châu Khê, huyện Đông Anh.
Đang nói chuyện thì anh Hoàng, hàng xóm ông Thanh, sang chơi. Anh Hoàng cũng từng đi xây với ông Thanh, không giấu niềm vui nhớ lại: “Hồi ấy mấy anh em đi khắp nơi để nhận thầu. Ông Thanh cẩn thận, giao phó từng việc cho từng người cụ thể. Công trình nào cũng hoàn thành sớm và đảm bảo an toàn. Tôi là người sáng mắt nhưng cũng muốn làm “lính” của ông”. Có lẽ vì nể và khâm phục, nên ông Chức (thôn Đa Hội, xã Liên Hà) cũng kết nghĩa anh trai với ông và giới thiệu đi xây nhà cho các anh em, họ hàng của ông Chức.
Triệu phú trồng nấm
Rồi nghề chủ thầu xây dựng không đủ sức để thỏa chí tung hoành, ông cần chọn cho mình một nghề mang tính ổn định hơn, nhất là khi sức khỏe đang xuống dốc. Năm 2005, chương trình trên đài tiếng nói giới thiệu một mô hình làm nấm ở Nam Định rất hiệu quả, ông Thanh phấn chấn. Thấy địa phương ông có khá nhiều thuận lợi để trồng nấm như nguồn nguyên liệu rơm, mùn cưa sẵn có, thị trường nấm đang có nhu cầu lớn, hứa hẹn cho thu nhập cao, ông quyết chí đổi nghề làm giàu. Ông gọi điện đến Trung tâm công nghệ sinh học thực vật hỏi thăm về mô hình trồng nấm, về Nam Định thăm mô hình và học hỏi kinh nghiệm trồng nấm hiệu quả, xây dựng trang trại, làm nhà xưởng, nhà bảo vệ… để trồng nấm. Hai năm đầu, nấm không ra mầm, tiền đổ vào rồi cứ thế trôi xuống sông biển.
Năm đó, ao nuôi ếch kết hợp và đàn bò của ông cũng rủ nhau chết không rõ nguyên do, thất thu đến 150 triệu đồng. Vợ ông xót của, thương chồng vất vả, khuyên can nhưng ông đều phẩy tay: “Bà cứ để tôi làm. Tôi không muốn sống chỉ biết ăn bám vào gia đình, vợ con”. Ông thế chấp nhà ở, vay ngân hàng 200 triệu đồng để làm lại từ đầu. Ông mua thêm sách hướng dẫn trồng nấm, liên hệ với các kỹ sư nông nghiệp, theo dõi thường xuyên những dấu hiệu bất thường khi nấm ra để “bắt bệnh mà xử lý kịp thời”. Chiếc radio luôn là bạn đồng hành tín cẩn của ông, chỉ cho ông cái cần câu, “mách” kiến thức, kỹ năng để làm giàu.

Với ông Thanh, làm giàu phải liều, “liều” trong sự tính toán. Nhất là những người khuyết tật như ông, thì càng phải tính toán kỹ hơn. Rất may, trong quá trình làm, vợ ông luôn đồng cam cộng khổ cùng chồng. Khối óc của chồng, bàn tay, đôi mắt của vợ. Chồng có kiến thức, vợ có kỹ năng thực tế. Cứ thế, như có một sự phối hợp ăn ý, nhịp nhàng, trang trại nấm của ông Thanh nhanh chóng vượt qua khó khăn để thu kết quả. “Lúc làm nấm, hai vợ chồng thế chấp căn nhà đang ở. Tôi cũng sợ, thua lỗ thì cả nhà dắt nhau ra đồng ở. Nhưng chồng tôi trấn an: Trời lấy của ông ấy đôi mắt, sẽ không lấy thêm gì nữa đâu, nên tôi rất tin tưởng”, bà kể lại.
Lứa nấm cho thu hoạch, bắt đầu cho thu nhập. Trời không phụ công người, lứa nấm tiếp theo tiếp tục thành công cho thu hoạch và bán lẻ cho dân trong vùng. Từ trang trại nhỏ, ông mở rộng bằng mảnh đất sát rừng, đào ao nuôi cá, nuôi ếch. Mỗi năm, ông thu mua đến hơn 200 tấn mùn cưa, hàng trăm tấn rơm và bông công nghiệp. Trong trang trại luôn thường trực 15 – 30 thợ nuôi trồng nấm, nhận mức lương 2,5 triệu đồng/tháng. Những ngày mùa, số lượng lao động đông hơn. “Nếu những lao động khuyết tật có khả năng làm việc, tôi sẵn sàng nhận và sắp xếp chỗ ăn ở cho họ tại trang trại. Tôi có ý kiến với Chủ tịch Hội người mù huyện Đông Anh để mời họ về làm cùng”, ông Thanh chia sẻ.
Hiện nay, trang trại nấm của ông Thanh có diện tích 9.000m2 làm sân phơi nguyên liệu, xây hơn 100m2 nhà ở cho lao động, khu nhà xưởng rộng 1.500m2, sản xuất quanh năm các loại nấm sò, mộc nhĩ, nấm mỡ, nấm rơm, linh chi… cung ứng nhu cầu tiêu thụ cho người dân trong huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận như Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình… Mỗi năm, thu nhập từ trang trại nấm và nuôi cá, ếch… lên đến 500 triệu đồng (cả gốc lẫn lãi). Có trang trại nấm, các con đứa lại tiếp nghề thầu xây dựng và sơn nhà, có đứa còn giúp mẹ chăm sóc nấm trong trang trại…
Vợ là đôi mắt…
Những ngày đầu năm, nắng vàng như rót mật, trang trại nấm của ông Thanh nằm lẩn khuất cuối cánh đồng làng, chất đầy rơm khô. Ông Thanh vừa từ bệnh viện trở về, sau thời gian điều trị bệnh khá dài. Đau yếu là thế, nhưng ông vẫn điều hành trang trại. Mắt mờ thế, nhưng mọi sinh hoạt đều tự ông làm lấy, không nhờ đến vợ con. Kể cả khi làm nấm, ông dùng khứu giác để xác định lượng rơm ủ đã đến độ hay dùng tay sờ xem nấm đã đến lúc thu hoạch chưa. Tôi bảo, sao ông không giao lại quyền quản lý trang trại cho con trai? Ông cười: “Lao động là niềm vui, tôi vẫn muốn làm việc cho đến phút cuối của cuộc đời”.
Ông Thanh là con trưởng trong một gia đình nghèo khó có đến 6 người con. Những bữa sắn thay cơm không còn xa lạ với đứa trẻ nghèo như ông. Vừa 6 tuổi, đôi mắt ông đã có dấu hiệu thị lực kém. Ban ngày, ông không nhìn rõ, đêm đến lại quáng gà, nhìn mọi thứ đều mờ mờ, ảo ảo. Đến lớp, các bạn trêu chọc về đôi mắt không lành lặn của mình khiến ông buồn tủi và cô đơn. Nhưng nhà nghèo lấy tiền đâu để chữa bệnh? Ông Thanh cho rằng, đó là sinh mệnh. Những gì thuộc về sinh mệnh thì không thể tránh khỏi.
Tròn 18 tuổi, ông Thanh vẫn đăng ký nhập ngũ. Thế nhưng, khi kiểm tra sức khỏe, ông mới biết mình bị chứng viêm võng mạc, viêm dây thần kinh đáy và sắc tố thoái hóa nhấn vào bóng tối. Với đôi mắt mờ đục, nhìn mọi thứ như quáng gà, nhưng ông vẫn khoác ba lô trên vai, mang theo bao mơ ước, lý tưởng được cống hiến. Được 2 năm, thị lực ông ngày một yếu đi, khiến những chuyến hành quân xuyên rừng, xuyên đêm gặp rất nhiều khó khăn. Vấp ngã bị bầm dập, chảy máu, nhầm lẫn đường… trở thành chuyện “như cơm bữa”. Năm 1983, ông Thanh xuất ngũ khi bệnh ngày càng nặng hơn. Ông được chuyển xuống viện 103 chữa trị và tình cờ gặp bà Nguyễn Thị Lan, cùng quê, đang chữa bỏng ở viện.
Gặp đồng hương như “bắt được vàng”, ngày nào họ cũng trò chuyện với nhau. Trong những câu chuyện đó, bà Lan tìm thấy ý chí và nghị lực từ người con trai gầy nhỏ, mắt mờ này. Tình yêu của họ lớn dần trong bệnh viện. Người ta yêu, được người yêu đưa đón, nắm tay đi chơi, nhưng bà yêu, bà đạp xe, dẫn đường đưa người yêu đi chơi. Ngày hai người quyết định kết hôn, trong tay không có một đồng vốn nào để làm ăn. Thương con, bố mẹ bà Lan phản đối, nhưng bà kiên quyết: “Không lấy anh ấy, con ở vậy suốt đời”. Họ lắc đầu: “Lấy về, sướng khổ tự chịu”. Cưới nhau về, ông Thanh nói với vợ, dù thế nào, ông cũng không để cho vợ con sống trong nghèo đói. “Cưới vợ, sinh con, nghĩa là cuộc sống không chỉ cho mình mà còn cả một gia đình phía sau. Tôi không thể ngồi ôm nỗi đau bệnh tật, để vợ con phải sống mãi với nghèo đói triền miên. Tôi nghĩ cách làm giàu, không phải đi làm thuê mà là tự làm ông chủ”, ông Thanh kể lại.
Tôi hỏi: “Đến bây giờ, có bao giờ bà thấy ân hận vì quyết định kết hôn với ông?”. Bà cười: “Ông mù mắt, nhưng tỉnh hơn người sáng mắt. Bao nhiêu lần tim tôi suýt nhảy ra khỏi lồng ngực vì quyết định táo bạo, liều lĩnh của ông, nhưng rồi lại răm rắp làm theo. Ông ấy giỏi lắm, tính đâu vào đấy, vợ con vì thế cũng được nhờ”. Thời điểm khó khăn nhất là những năm sau khi làm gạch thất bại. Có lúc, cơm không có mà ăn, phải vay sắn để ăn chống đói qua ngày. Nhưng càng nghèo khổ, hai vợ chồng càng yêu thương nhau.
Trong mắt bà Lan, chồng bà là người chịu khó làm ăn, tính tình dễ chịu, yêu thương vợ con và nhiệt tình với mọi người. Đi đâu, ông đều được mọi người quý mến. Ông nói được là làm được, nên ai cũng nể phục.
Rời trang trại nấm, tôi vẫn nhớ mãi câu nói của ông Thanh: “Người ta chỉ tàn phế nếu tự ti, mặc cảm vào bản thân mình. Bí quyết của thành công là tự tin, sự nỗ lực và trau dồi tri thức để đạt được mục tiêu đề ra”.
Ông Hoàng Đức Thanh: 
“Mọi người cứ nhìn vào những thành quả mà một gã mù như tôi đang có, là một trang trại nấm cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm với hơn 30 công nhân thường xuyên làm việc. Để có kết quả như ngày hôm nay, tôi phải “gieo hạt”, dày công chăm sóc, vun trồng đến ngày “hái quả”, bởi tâm niệm mà tôi đặt ra ngay từ khi đón vợ về nhà: không bao giờ để vợ con phải đói khổ, dù tôi là một người đàn ông tật nguyền. Có lẽ, trải qua bao nhiêu sóng gió trong cuộc đời, tôi nghiệm ra rằng, chỉ cần có quyết tâm, đam mê thực sự thì không gì là không thể làm được. Tôi đã chứng minh cho các con tôi thấy điều đó, rằng hãy dành hết đam mê, nhiệt huyết và dám thử sức với những dự định của mình nếu thực sự yêu thích”.
Chị Nguyễn Thị Thành: năm nay 36 tuổi, đã làm việc cho ông Thanh hai năm với mức lương 2,5 triệu đồng/tháng, nhận xét về ông chủ của mình: “Ông Thanh tuy không còn sáng mắt nhưng ý chí và nghị lực của ông còn sáng hơn gấp bội của người thường. Nhờ có công việc từ ông mà nhiều người dân có hoàn cảnh khó khăn có việc làm, có tiền để trang trải cho gia đình. Ông còn luôn quan tâm tới đời sống của công nhân nên chẳng ai là không nể phục…”.

Mai Hồng (Mốt & Cuộc Sống)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here